ĐƯỜNG ỐNG CHÍNH DẪN DẦU VÀ SẢN PHẨM DẦU – TCVN – PHẦN 3

Weldtec đã trình bày với các bạn quy trình thi công đường ống chính dẫn dầu và sản phẩm dầu.Chia thành các phần khác nhau ,mời các bạn đọc từng phần để nắm hết được kiến thức

XEM PHẦN 1 : ĐƯỜNG ỐNG CHÍNH DẪN DẦU VÀ SẢN PHẨM DẦU – TCVN – PHẦN 1

XEM PHẦN 2 : ĐƯỜNG ỐNG CHÍNH DẪN DẦU VÀ SẢN PHẨM DẦU – TCVN – PHẦN 2

Đặt đường ống trong vùng núi

Công việc thi công đường ống trong vùng núi được tiến hành vào mùa khô và các thời kì ít xẩy ra lũ lụt, sụt lở đất đá nhất.Thi công đường ống ở vùng núi phải được chuẩn bị hết sức tỉ mỉ, đầu đủ, đồng bộ và phải thực hiện thi công tổ hợp các công việc, kể cả các công việc đặc thù riêng của từng đoạn tuyến ống.Trước khi thi công các công đoạn đường ống ở vùng núi phải làm một số công việc chuẩn bị sau:

– Thu dọn các tảng đá treo có nguy cơ sụt, gây nguy hiểm;

– Thực hiện các biện pháp chống sụt lở, trượt đất đá trên đoạn sẽ thi công đường ống.

Chú thích: Trước khi kết thúc và các biện pháp chống sụt lở và trượt đất đá đo thiết kế quy định, hoặc không có trong thiết kế nhưng thực tế có thể xẩy ra sụt lở (gây nguy hiểm) cấm không được tiến hành thi công.

Khi xuất hiện các dấu hiệu tai biến có thể xẩy ra (lũ và sụt lở đất đá…) người và máy móc cần được chuyển ngay đến chỗ an toàn. Để làm việc đó, trong thời gian kĩ thi công đường ống ở vùng núi, phải tổ chức các đội an toàn lao động, đội thông tin và đội y tế cấp cứu.Khi thi công đường ống ở vùng núi, được sử dụng các trang thiết bị máy móc thi công thông thường và các trang thiết bị máy móc thi công chuyên dùng đặc biệt dùng cho vùng núi để đảm bảo điều kiện an toàn lao động.

XEM CÁC LOẠI MÁY HÀN DÙNG ĐỂ HÀN ĐƯỜNG ỐNG DẪN DẦU 

Khi thi công bằng nổ mìn, phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của thiết kế và các quy phạm về nổ mìn phá đất đá.Thi công hào bằng thủ công phải tổ chức thật hợp lí, đảm bảo an toàn lao động.Khi thi công trên các sườn dốc quá 15O cần tiến hành neo máy. Số lượng neo và phương pháp neo phải xác định bằng tính toán.

Chú thích: Khi sườn dốc quá 10O phải kiểm tra sự ổn định của máy đoà hào chống trượt.

Phải neo máy đào khi mái dốc từ 15O đến 22O, neo máy nâng ống khi mái dốc từ 15O đến 35O.Khi các sườn dốc lớn hơn độ dốc đã nêu ở trên việc thi công được tiến hành bằng những phương pháp đặc biệt do thiết kế thi công quy định.Khi thi công trên các sườn dốc ngang quá 8O được phép làm dải đường thi công (đương bậc). Dải đường này phải bảo đảm điều kiện các máy móc thi công làm việc ổn định trên đó, đảm bảo thông suốt liên tục công tác vận tải lúc lắp ráp thi công và cả giai đoạn vận hành đường ống sau này. Kết cấu dải đường thi công do đồ án thiết kế quy định.

Tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn dải đường thi công có thể làm trong đất gốc hoặc nửa đắp.Trong bất kì trường hợp nào, hào đặt đường ống trên dải đường thi công phải nằm trên đất gốc (đất nguyên thổ), còn khoảng cách từ chân mái dốc đến tim hào phải đủ bảo đảm thuận lợi cho thi công.Chiều rộng dải đường thi công được xác định theo kích thước của máy móc sử dụng, phương pháp thi công; đường kính ống, kích thước hào… và theo điều kiện xe máy di chuyển một chiều. Tổng chiều rộng dải đưởng thi công khi có một ống không được nhỏ hơn 8m. Thông thường không được phép mở rộng đường thi công khi có hào sâu không quá 0,3m…

Khi chiều dài đường thi công liên tục và lớn hơn 600m hoặc do yêu cầu đặc biệt, được phép làm chỗ tránh. Chiều dài và chiều rộng chỗ tránh phải bảo đảm các xe máy thi công đi ngược chiều có thể tránh được nhau.Trường hợp làm tơi đá cũng để làm đường thi công, được phép nổ mìn lỗ nhỏ để tránh gây ra khe nứt trong đất đá vùng mìn nổ. Lượng thuốc nổ lớn nhất của một nhóm lỗ mìn nổ đồng thời không được lớn hơn 500kg, cấm không được nổ khối lớn để làm đường thi công.Để đào hào trong đất đá, phải làm tơi đất đá bằng nổ mìn lỗ nhỏ. Dốc hào ở vùng núi lấy theo quy định của thiết kế.

Khi nổ mìn đào hào tuyến ống thứ hai, khối lượng mìn phải tính toán sao cho chấn động không gây hư hỏng đưởng ống hiện có.Cấm không được chở ống đến dải đường thi công trước khi đào xong hào. Khi phải đổ đát dưới hào lên chỗ đường thi công phải được san bằng phẳng theo đường thi công.Tuỳ theo điều kiện thi công, việc lắp ráp và hàn ống trên dải đường thi công có thể thực hiện trên mép hào, trên bệ đỡ hoặc ở mép hào.Trường hợp thi công kéo ống theo dốc dọc của hào, phải đổ lớp đất mềm hoặc cát đệm ở đắy hào đảm bảo không làm hư hỏng lớp gỗ bọc bảo vệ, lớp bọc ống.Phải tính toán độ dài đoạn ống kéo sao cho không tạo ứng lực trong đường ống.

Chú thích : Cấm kéo ống theo dốc dọc khi không có lớp lót mềm và ống không được bọc gỗ bảo vệ lớp bọc chống ăn mòn.

Cấm không được thực hiện phương pháp lao ống đối với dốc ngang mà đất dưới hào có lẫn đá dù có bơm nước vào hào.Khi đặt đường ống trong đường hầm, kích thước của đường hầm được lấy nhỏ nhất theo các điều kiện sau:

– Đảm bảo thuận tiện thi công đào đường hầm;

– Đảm bảo thuận tiện thi công đường ống;

– Đảm bảo đi lại kiểm tra định kì và sửa chửa trong giai đoạn vận hành.

Công việc đào, xây, gia cố đường hầm được thực hiện theo đúng yêu cầu của thiết kế.Đất đào hầm thải ra phải được tận dụng làm bãi thi công ở bên ngoài, còn lại thải ra bãi thải theo qui định của thiết kế.Trong thời gian thi công nổ mìn, đường hầm phải được tổ chức thông gió nhân tao phù hợp với thiết kế thi công.Lắp ráp đường ống vào đường hầm được phép tiến hành bằng phương pháp kéo từng đoạn ống một vào đuường hầm bằng tời và cáp. các đoạn ống kéo được đặt trên các gối đỡ (gối cứng hoặc gối lăn) tuỳ theo đoạn ống và phương pháp thi công.

– Thông thường kéo các đoạn ống theo chiều ngược với độ dốc của đường hầm và có tời hãm đặt ở phía trên.Tiến hành thử trực tiếp đường ống trong đường hầm. Trong thời gian thử, đường ống được đặt trong các gối thử tạm thời, còn các thiết bị bù thì được neo chặt lại.

Đặt đường ống trong vùng mỏ khai thác

Thi công đường ống ở vùng khai thác mỏ phải làm theo đúng các biện pháp đặc biệt được quy định trong đồ án thiết kế.Chỉ được thi công đường ống sau khi đã có sự thoả thuận bằng văn bản với xí nghiệp đang khai thác mỏ nơi đường ống đi qua.Các ranh giới vùng khai thác mỏ phải được xác định bằng những mốc cố định, có ghi các số liệu đo đạc địa hình, độ cao đã liên hệ với hệ độ cao địa phương.Trong vùng khai thác mỏ, khi lắp đặt bộ phận bảo vệ điện hoá, mối liên kết các đầu dây điện vào đường ống phải đảm bảo khi có chấn động, đường ống bị rung chuyển, dây điện không bị căng và đứt mối nối với ống.

Đặt đường ống ở vùng đất yếu, đầm lầy

Trước khi thi công đoạn đường ống vượt qua đường đát yếu, đầm lầy phải làm một số công việc chuẩn bị sau:

a) Đo độ sâu đầm lầy theo mặt cắt dọc xem có đúng với thiết kế không. Nếu độ sâu lớn hơn 0,5m thì phải mời thiết kế đến xử lí mới được thi công.

b) Làm các công trình tiêu thoát nước mặt theo đúng quy định của thiết kế.

Chú thích: Không cho phép đắp đê ngăn nước ở sông với vùng đất yếu và vùng đầm lầy.

Đối vùng đất quá yếu, phải tiến hành đào hào và đặt đường ống xuống hào trong thời gian một ca làm việc.Cần áp dụng các biện pháp để máy móc thi công làm việc được bình thường ở vùng đất quá yếu như:

– Sử dụng các tấm lót (ghép băng gỗ, băng ống thép đã thai loại…)

– Sử dụng các phao nổi;

– Làm đường thi công tải có dải gỗ cây, tre tươi, đất khoáng;

– Làm đường thi công lâu dài, không những dùng cho thi công mà còn dùng cho bảo quản, vận hành, sửa chữa…sau này.

Để tránh lở đất ở đáy hào cần:

– Đặt đường ống và đổ đất cách mép hào xa hơn 1m;

– Các phương tiện xe, máy đi lại cách mép hào lớn hơn 1,5m;

Trường hợp đặt đường ống trong dải đất đắp, cần phải dàn đều tải trọng trên mặt đất yếu bằng gỗ thanh, cành cây, cây tre…có độ dày không nhỏ hơn 10cm. Kích thước dải đất đắp theo đúng qui định của thiết kế, mái dốc lấy theo đất thực tế dùng để đắp lên dải đất.Trường hợp đắp bùn cần ốp bên phải một lớp đất dày khoảng 20cm, chân mái dốc cần được gia cố chắc chắn. Cần trồng cỏ hoặc cây con có bộ rễ trùm lên trên hoặc các biện pháp tương tự để bảo vệ dải đất khỏi bị xói mòn phong hoá.Vị trí đặt khối gia tải hoặc neo xoắn phải bảo đảm đúng như thiết kế quy định.Khi lấp đất có độ rỗng lớn phải phủ đất quá sang hai bên mép hào không nhỏ hơn 0,5m.

Bảo vệ điện cho các đường ống khỏi bị ăn mòn dưới đất

Các dạng bảo vệ điện cho các đường ống thép khỏi bị ăn mòn (bảo vệ catôt, protectơ) do đồ án thiết kế quy định.Để hàn đầu dây của thiết bị bảo vệ điện và đầu dây kiểm tra với đường ống, bề mặt ống phải đươc bóc hết lớp bọc bảo vệ và được đánh sạch đến khi có ánh kim và hàn bằng hồ quang điện. Sau khi hàn xong cần làm sạch xỉ hàn và bọc lại lớp bọc bảo vệ như cũ.Chỉ được nối đầu dây với trạm catôt khi đã cắt điện nguồn. Các đầu dây dẫn của trạm catôt đều phải được tiếp đất và có kí hiệu.

Ở cơ sở sản xuất tập trung, protectơ được bọc chất hoạt tính từng chiếc một rồi được chở đến tuyến ống. Còn khi sản xuất ở hiện trường, protectơ được đặt trong lỗ khoan dưới đất. Đường kính và độ sâu lỗ khoan đủ để đổ chât hoạt tính xung quanh, phía dưới và phía trên đều dày hơn 10cm rồi lấp đất lại.Nếu chôn protectơ đơn chiếc thì đặt nó trong lỗ khoan từ trên mặt đất. Nếu chôn protectơ thành từng nhóm thì đặt các protectơ lỗ khoan từ đáy hào đã được đào bằng máy đào .

Các trạm catôt đuợc tiếp đất bằng cách đóng các cọc điện từ đáy hào, có độ sâu không nhỏ hơn 0,8m. Các đài thép nối các cực điện với nhau đặt ở đáy hào và được hàn với các điện cực bằng hàn điện, sau đó dải thép và chỗ hàn được đánh sạch và bảo vệ.Các công tác đào hào khoan lỗ, đóng cọc điện cực và lấp hào có thể thực hiện bằng cơ giới hoặc bằng thủ công.Sau khi thi công xong tiếp đất bảo vệ và tiếp đất anốt phải kiểm tra chúng bằng máy đo điện trở tiếp đất. Nếu điện trở tiếp đất lớn hơn trị số thiết kế, thì phải tăng số lượng các điện cực tiếp đất lên cho đến khi đạt được trị số điện trở tiếp đất thiết kế. Sau đó lập biên bản xác nhận của bên giao thầu và thiết kế.

Các cột kiểm tra dọc tuyến được hàn nối với đường ống và protector bằng hàn điện. Hàn xong phải đo kiểm tra thông số điện. Nếu chưa đạt phải tìm nguyên nhân và khắc phục ngay cho tới khi kiểm tra đật.Lắp bích các điện đúng vị trí thiết kế quy định. Sau khi lắp song, phải tiến hành đo kiểm tra điện trở cách điện phù hợp với giá trị quy định trong thiết kế. Nếu giá trị này không đạt phải tìm nguyên nhân và khắc phục.Việc lắp đặt tất cả các thiết bị bảo vệ chống ăn mòn bằng điện hoá cần phải hoàn thành trước khi bàn giao đường ống đưa vào vận hành, trường hợp đặc biệt ở những đoạn riêng lẻ được cơ quan xét duyệt thiết kế nhất trí, thì được kéo dài thời gian đặt trạm catốt.

Phải thành lập biên bản bàn giao đưa vào vận hành các công trình bảo vệ điện hoá. Trường hợp bảo vệ điện hóa cho cả đường ống và các công trình bằng thép ngầm khác thì trong biên bản phải có chữ kí của các đại diện cơ quan có công trình nói trên.

Thổi rửa và thử đường ống dấn chính

Việc thổi rửa và thử đường ống dẫn chính được tiến hành sau khi kết thúc các công việc xây lắp đúng với quy định của bộ chủ quản.Trình tự và phương pháp tiến hành cũng như an toàn kĩ thuật và phòng cháy của việc thổi, rửa và thử đường ống dẫn chính được quy định trong bản hướng dẫn cách tiến hành công việc thổi, rửa và thử đường ống dẫn chính. Bản hướng dẫn này do cơ quan thi công soạn thảo cho từng đoạn đường ống và phải được sự thoả thuận của cơ quan giao thầu.

Chú thích: Trong trường hợp thổi, thử đường ống dẫn khí đốt, cũng như đường ống dẫn dầu và sản phẩm dầu bằng khí đốt thì bản hướng dẫn phải được phép của bộ chủ quản.

Chỉ được thổi và thử đường ống dẫn chính bằng khí đốt sau khi đã đẩy hết không khí ra khỏi đường ống. Nồng độ ôxy trong hốn hợp không khí thoát ra khỏi đường ống được xác định bằng máy phân tích khí, không được lớn hơn 2%.Cấm không được tiến hành thổi, rửa và thử đường ống khi không đảm bảo thông tin liên lạc liên tục dọc đoạn ống thử.Tuỳ theo cách đặt đường ống, việc thổi rửa được quy định như sau:

– Đối với đường ống đặt ngầm: Sau khi đặt ống xuống hào;

– Đối với đường ống đặt nổi: sau khi cheo lên dây hoặc đặt lên bệ đỡ.

Chú thích: Đối với đướng ống dẫn dầu và sản phẩm dầu đặt ở vùng quá lầy cho phép thối rữa từng đoạn đường ống đặt ở mép hào.

Thổi đường ống dùng không khí sạch. Trong trường hợp cá biệt, có thể dùng khí đốt nhưng phải được Bộ chủ quản cho phép. Rửa đường ống phải dùng nước ngọt và trong. Cấm dùng nước mặn hoặc nước đục để rửa và thử đường ống.Áp lực thổi bằng khí nén không được nhỏ hơn 60N/cm2 hoặc rửa bằng nước không được nhỏ hơn 100N/cm2. Thể tích chứa khí nén không được nhỏ hơn 2,5 hoặc khối lượng nước để rửa đường ống không được nhỏ hơn 3 lần thể tích đoạn đường ống sẽ được thổi và rửa.

Chú thích: Các đường ống có liên quan với đường ống cần thổi hoặc rửa phải được ngăn cách bằng thiết bị, hoặc đóng van.

Thổi hoặc rửa đường ống có đường kính từ 300mm trở lên phải có pít tông làm sạch. Những đoạn đường ống vượt quá chướng ngại nước hoặc vùng địa hình gấp khúc và các đường ống có đường kính nhỏ hơn 300mm được phép thổi hoặc rửa không có pít tông làm sạch trong trường hợp này cần tăng lưu tốc và khối lượng khí nén hoặc nước rửa.Cấm nạp, xả khí nén hoặc nước rửa, pít tông làm sạch qua các thiết bị trên tuyến.

Chú thích: Thông thường người ta tiến hành rửa đường ống trước khi lắp đặt thiết bị trên tuyến.Độ dài đoạn ống được thổi hoặc rửa từ 10 đến 15km. Có thể cho phép độ dài đoạn ống thổi hoặc rửa từ 25 đến 30km, lức đó phải tăng áp lực thổi hoặc rửa lên sao cho bảo đảm tốc độ khí hoặc nước thoát ra ở cuối đoạn ống cũng như quy định áp lực ở điều 12.7 của chương này với độ dài từ 10 đến 15km.

Các đoạn ống thổi hoặc rửa không dùng pít tông làm sạch sẽ được quy định trong đồ án thiết kế.Đường ống được coi là thổi hoặc rửa sạch khi không khí (hoặc hơi đốt) thoát ra cuối đường ống hoàn toàn sạch hoặc nước rưa chảy ra hoàn toàn trong, sờ tay vào không cảm thấy sạn cát trong nước.Đường ống được thử độ bền, độ kín bằng không khí, khí đốt hoặc bằng nước sau khi đã lắp đặt xong các thiết bị trên tuyến và thiết bị catốt. Việc thử được tiến hành làm hai giai đoạn:

– Thử độ bền với áp lực thử;

– Thử độ kín sau khi hạ áp lực thử xuống áp lực làm việc.

Giá trị áp lực thử độ bền được lấy:

Pth = 1,1 P1.v (12-1)

Với Pth: áp lực thử tính bằng N/cm2

P1.v: áp lực làm việc của đường ống tính bằng N/cm2

Trong mọi trường hợp áp lực thử đường ống dẫn chính không được nhỏ hơn 100N/cm2 và phải lớn hơn áp lực làm việc ít nhất 50N/cm2.Đường ống cần thử phải ngăn cách với đường ống khác có liên quan bằng bích bịt hoặc đóng van chắn.Thử độ bền đường ống bằng không khí hoặc khi đốt được tiến hành theo nhiều cấp với áp lực bằng 0,3; 0,6 và 1,0 áp lực thử. Ở mỗi áp lực, tiến hành kiểm tra toàn bộ đoạn ống thử. Trong khi kiểm tra phải ngừng việc tăng áp lực.Thử độ bền các đoạn ống loại II, III, IV bằng khí nén, kéo dài không ít hơn 6 giờ. Đường ống được coi là đủ độ bền khi kiểm tra không phát hiện nứt, dỗ và khuyết tật khác, đồng thời áp lực giảm trong 6 giờ không lớn hơn giá trị tính theo công thức

Trong đó: DP: Giá trị áp lực bị giảm, tính bằng %…

Dy: đường kính quy ước của đường ống tính bằng mm

Sau khi thử độ bền song tiến hành ngay thử độ kín của đường ống bằng cách hạ áp lực thử xuống đến áp lực làm việc và để trong 24 giờ cho nhiệt độ của không khí nén hoặc khí đốt cân bằng với nhiệt độ xung quanh (nhiệt độ của đất). Sau đó bắt đầu thử độ kín, công việc này cũng phải kéo dài trên 24 giờ.Kết quả thử độ kín bằng khí nén xác định theo độ giảm áp lực trong đường ống trong thời gian thử, có tính đến sự thay đổi nhiệt độ của khí nén và áp lực của khí quyển theo công thức:

DP = 100(1-) (12 – 3)

Trong đó:

P: độ giảm lực trong đường ống tính bằng %;

Tđ, Tc: nhiệt độ tuyệt đối của khí nén lúc bắt đầu và lúc kết thúcthủ tình bằng OC

Pđ = Pđđq + Pđđh: Áp lực lúc bắt đầu tính bằng N/cm2

Pc = Pcđq + Pcđh: Áp lực lúc kết thúc tính bằng N/cm2

Pcđq = Pđđh: Áp lực khí quyển lúc bắt đầu và kết thúc thử, tính bằng N/cm2

Pcđq, Pđđh: Áp lực trên đồng hồ đo áp lực lúc bắt đầu và kết thúc thử tónh bằng N/cm2

Đường ống được coi đủ độ kín khi độ ẩm giảm áp lực trong 24 giờ tính theo công thức (12-3) không vượt quá giá trị công thứ (12-4) dưới đây:

Đường ống trong phạm vi trạm bơm, trạm nén khí, trạm phân phối và điểm cung cấp khí phải thử độ kín bằng nén trong 12 giờ. Độ giảm áp lực cho phép trong 12 giờ không được lớn hơn 12%.

Được phép kiểm tra độ kín bằng các máy tìm rò rỉ hoặc bằng cách quét nước xà phòng lên các mối hàn nối và các chỗ nghi ngờ…Tất cả các khuyết tật phát hiện ra phải được sửa chữa triệt để.

Để rễ phát hiện các khuyết tật, khi thử bằng khí nén, phải pha thêm chất tạo mùi vào khí nén.Thử thuỷ lực độ bền các đường ống loại II, III, IV kéo dài không ít hơn 6 giờ. Sau đó để thử độ kín phải hạ áp lực thử đến áp lực làm việc và tiến hành kiểm tra đoạn ống cần thử.Đường ống được coi là đạt yêu cầu thử thuỷ lực về độ bền và độ kín, nếu trông 6 giờ áp suất thử không thay đổi và trên đoạn ống thử không phát hiện thấy rò rỉ.

Số lượng áp kế đặt trên đường ống để đo áp lực không được ít hơn 2cái.Khi bơm nước vào các đường ống dẫn sản phẩm dầu và dẫn khí đốt loại I để thử thuỷ lực phải xả thật hết không khí ra khỏi đường ống bằng các van xả khí đã bố trí sẵn trên đường ống ở những chỗ có khả năng tích tụ không khí.

Thử độ bền và độ kín các đoạn đường ống loại I được tiến hành 2 lần :

a) Thử sơ bộ bằng khí nén hoặc bằng thuỷ lực, sau khi đã hàn nối xong toàn bộ đoạn ống hoặc xong từng phần đang đặt ở mép hào hoặc trên giá kê trong bãi thi công, với áp lực thử:

Pth = 1,25 p1.v

pth và p1.v chú thích như trong công thức (12-1)

Thời gian thử sơ bộ không ít hơn 24 giờ

Đường ống được coi là chịu được thử sơ bộ, khi áp lực trong thời gian đó không thay đổi.

b) Thử lần cuối cùng với toàn bộ đường ống.

Thử thuỷ lực các đoạn đường ống trong phạm vi trạm bơm, trạm nén khí, trạm phân phối khí tiến hành không ít hơn 2 giờ. Đường ống được coi là tốt nếu trong thời gian áp lực không thay đổi và kiểm tra không phát hiện rò rỉ.Thử độ bền và độ kín đường ống dẫn chính dùng áp kế lò xo có đường kính không nhỏ hơn 150 mm có thang chia không lớn hơn 4/3 áp lực thử và có độ chính xác không thấp hơn 1,5 theo tiêu chuẩn TOCT 2405-63 của Liên Xô (nên dùng loại áp kế kiểu MTU) đã được kiểm nghiệm trước và được cặp chì đảm bảo.Đo nhiệt độ không khí và khí đốt trong đường ống nên dùng nhiệt kế chất lỏng của phòng thí nghiệm có thang đo không lớn hơn 0,1OC.

Weldtec đã trình bày với các bạn  tiêu chuẩn TCVN về đường ống chính dẫn dầu và sản phẩm dầu,các bạn đón đọc phần 4 nhé..Nếu quý khách có nhu cầu tư vấn trực tiếp hay đặt mua máy thì liên hệ với chúng tôi. Chúng tôi luôn sẵn sàng..

Bài liên quan

Weldtec Cong ty co phan cong nghe va thiet bi han 0903427200 nhamn@weldtec.com.vn