ĐƯỜNG ỐNG CHÍNH DẪN DẦU VÀ SẢN PHẨM DẦU – TCVN – PHẦN 2

ĐƯỜNG ỐNG CHÍNH DẪN DẦU VÀ SẢN PHẨM DẦU – TCVN – PHẦN 2
Trung bình 5 * 13872 bình chọn

Weldtec đã trình bày với các bạn quy trình thi công đường ống chính dẫn dầu và sản phẩm dầu.Chia thành các phần khác nhau ,mời các bạn đọc từng phần để nắm hết được kiến thức

XEM PHẦN 1 : ĐƯỜNG ỐNG CHÍNH DẪN DẦU VÀ SẢN PHẨM DẦU – TCVN – PHẦN 1

XEM PHẦN 3 : ĐƯỜNG ỐNG CHÍNH DẪN DẦU VÀ SẢN PHẨM DẦU – TCVN – PHẦN 3

Bọc chống ăn món đường ống bằng thép

Bọc chống ăn mòn đường ống bằng thép phải được tuân theo các quy định của chương này và những yêu cầu của tiêu chuẩn “bảo vệ các công trình kim loại chôn ngầm dưới đất khỏi bị ăn mòn”.Tiến hành bọc các lớpbọc bằng phương pháp cơ giới hoặc thủ công ở nhà máy, ở các chạm lưu động hoặc trực tiếp ở hiện trường.

Khi vận chuyển các đoạn ống đã được bọc ở nhà máy hay trạm lưu động đến tuyến ống, cần có những biện pháp bảo quản, tránh hư hỏng lớp bọc.Tất cả các vật liệu bọc cần được bảo quản để không bị ẩm, hư hỏng hoặc nhiễm bẩn (kể cả lức vận chuyển).Bề mặt đường ống được đánh sạch bẩn han rỉ, các vẩy, bụi sắt (không tiến hành vào lúc trời mưa).Khi ống còn lớp bọc cũ, phải dùng chổi sắt hoặc máy đánh sạch cho hết lớp bọc cũ.

Sau khi đánh sạch mặt ngoài ống, phải lau sạch bụi bẩn, bề mặt khô ráo rồi tiến hành sơn lót ngay. Không được sơn lót lúc trời mưa, giông, gió to hoặc có sương mù. Lớp sơn lót phải đều, phẳng, không bỏ sót, không bị gợn, không có vết cháy, bọt. Chiều dầy lớp sơn lót nằm trong khoảng từ 0,1 đến 0,2mm.Khi lớp sơn lót bị hỏng, bị nhiễm bẩn, bụi, phải đánh sạch, rửa sạch bằng xăng chỗ hỏng rồi sơn lót lại.Tuỳ theo điều kiện thi công và sử dụng của đường ống chọn matít bitum có tính chất cơ lí bảo đảm theo yêu cầu nêu theo bảng dưới.

Chế tạo matít bitum ở nhà máy hoặc ngay trên hiện trường thi công (nấu trong các nồi lưu động). Thành phần và tính chất cơ lí của nó theo các chỉ tiêu nêu ra trong bảng 6 và 7 dưới đây.Để tránh biến thành than cốc, matít chỉ giữ ở nhiệt độ từ 180OC đến 200OC không quá 1 giờ, 160OC đến 170OC không quá 3 giờ.Matít bitum, sau khi chế tạo ở nhà máy, được chở đến địa điểm thi công bằng xe chuyên dụng hoặc trong nồi nấu lưu động. Không được để nược bụi hoặc đất rơi vào matít…

Nhiệtđộ (OC) Chỉ tiêu cơ lí yêu cầu
Không khí khi thi công Các sản phẩm vận chuyển trong ống Nhiệt độ làm mềm matít bitum (OC) Độ giãn dài ở nhiệt độ 25OC (cm) độ xuyên kim ở 25OC (mm)
Từ 0 đến 5

 

 

Từ trên 5 đến 30

 

 

 

Trên 30

Dưới 40

Từ trên 40 đến 56

Từ trên 56 đến 70

 

Dưới 40

Từ trên 40 đến 56

Từ trên 56 đến 70

Dưới 40

Từ trên 40 đến 56

Từ trên 56 đến 70

Từ 65 đến 75

Từ 80 đến 90

Từ 86 đến 95

 

Từ 70 đến 80

Từ 80 đến 90

Từ 90 đến 95

Từ 80 đến 90

Từ 80 đến 90

Từ 90 đến 100

Từ 3 đến 4

Từ 2 đến 3

Từ 2 đến 3

 

Từ 2,5 đến 3,5

Từ 2 đến 3

Từ 1,5 đến 2,5

Từ 2 đến 3

Từ 2 đến 3

Từ 1,5 đến 2,5

Từ 2,5 đến 3,5

Từ 2 đến 2,5

Từ 2 đến 2,5

 

Từ 1,5 đến 2,5

Từ 1,5 đến 2,5

Từ 1 đến 2

Từ 1 đến 2,0

Từ 1 đến 2,0

Từ 1 đến 2,0

Chú thích: Nhiệt độ làm mềm matít bitum phải lớn hơn 25OC so với nhiệt độ của sản phẩm vận chuyển trong ống.

Matít-bitum cao su

Tên các thành phần vật liệu và chỉ tiêu cơ lí Số liệu matít
1 2 3 4 5 6
a) Hàm lượng trọng lượng của thành phần vật liệu (%)
Bitum số IVi hoặc IV

Bitum số Vi hoặc V

Bột cao su

Chất độn khoáng

Dầu xanh

Polizôbutylen.200

b) Tính chất cơ lí của matít

Nhiệt độ chảy dẻo (OC)

Độ giãn dài ở 25OC (cm)

Độ xuyên kim ở 25OC (mm)

80

5

15

 

70-80

3,5-3

2-1,6

93

7

 

76-80

3,5-3

2-1,6

43

42

10

5

 

80-90

2,5-2

1,6-1

48

45

7

 

90-93

2,5-2

2,5-2

85

10

5

 

70-76

4-2,5

3-2,5

84-75

10

5

0,25

 

76-86

5-4

4-3

Chú thích: Bitum số IVi là AH-IV của Liên Xô {Theo TOCT.6617 – 56 và 9812-61}

Matít-bitum phối liệu khoáng

Tên các thành phần vật liệu và chỉ tiêu cơ lí Số liệu matít
1 2 3
a) Hàm lượng trọng lượng của các thành phần vật liệu (%)

Bitum số IVi hoặc IV

Bitum số Vi hoặc V

Phối lượng chất béo hoá dẻo.

b) tính chất cơ lí của matít

Nhiệt độ chất dẻo (O C)

Độ giãn dài ở 25OC (cm)

Độ xuyên kim ở 25OC (mm)

 

75

 

73-93

3-3,5

2-3

 

75

 

95-98

1,5-2

1-2

 

70

5

 

67-73

3-4

2-2,5

Chiều dầy của lớp bọc bảo vệ và sai số cho phép phải tuân theo các chỉ tiêu

Loại lớp bọc theothành phần vật liệu Bình thường Tăng cường Rất tăng cường
Chiều dầy Sai số cho phép Chiều dầy Sai số cho phép Chiều dầy Sai số cho phép
Lớp bọc Matít bitum phối liệu khoáng. 3 ± 0,3 6 ± 0,5 9 ± 0,5
Lớp bọc Matít bitum cao su lớp. 3 5,5 8,5
Bọc bằng màng chất dẻo 0,35 0,7 0,7

Chú thích: Chiều dầy lớp bọc kể cả chiều dầy của vật liệu cuốn.

Việc bọc ống tiến hành ngay sau khi khô sơn lót. Không bọc lúc trời mưa, gió to, bụi hoặc có sương mù.

Chú thích: Cho phép bọc lúc sơn lót chưa được khô (khi ấn ngón tay có dấu tay, nhưng không bẹp lớp sơn lót).

Nhiệt độ không khí không quá 30OC được phép lấy nhiệt độ matít 160O đến 180OC. Khi nhiệt độ không khí vượt quá 30OC được phép giảm nhiệt độ matít xuống đến 150OC.Khi lớp bọc Matít bitum cao su loại tăng cường, cuốn bằng vải thuỷ tinh hoặc bằng giấy dai, lúc nhiệt độ không khí lớn hơn 20OC cho phép giảm nhiệt độ matít xuống đến 140OC với điều kiện thử độ dính bám của lớp bọc với ống không ít hơn 5 chỗ thử trên 1km đường ống.

Không được phép nấu matít nóng lên nhiều lần. Matít thừa sau một ngày phải được lấy ra hết khỏi nồi nấu và thùng chứa.Khi cuốn lớp vải thuỷ tinh hoặc giấy dai lên lớp matít bitum nóng, phải chờm mép Bitum cách nhau từ 2 đến 3cm.

Các lớp cuốn ở trong có thể cho phép có thể không chờn mép, những khe hở giữa các mép không được lớn hơn 5mm.Phần cuối của băng giấy cuốn trước phải được đầu của băng giấy cuốn tiếp theo đè lên một đoạn không nhỏ hơn 10cm và dán bằng matít bitum nóng.Matít phải thấm đen vải thuỷ tinh hoặc giấy dai.Lớp bọc ở các mối hàn nối ống được thực hiện ngay ở mép hào trên tuyến. Vật liệu bọc mối hàn đó có thể là chính vật liệu bọc ống hoặc có thể là màng chất dẻo polime hoặc các vật liệu khác có đặc tính tương đương.

Khi nhiệt độ không khí lúc thi công thấp hơn 5OC dùng màng chất dẻo chế tạo từ polietilen, khi nhiệt độ không khí từ 5OC trở lên dùng màng chất dẻo chế tạo từ polivinyl-clorit.Các cuộn màng chất dẻo phải được bảo quản trong phòng kín, khô ráo và mát mẻ. Các cuộn để thẳng đứng không xếp quá 3 chồng.Khi vận chuyển các cuộn được đựng trong các túi téclovinyl: mỗi túi đựng một cuộn.

 Các lớp màng chất dẻo cuốn phải chờm lên nhau không bé hơn 2 cm. Đoạn đầu của cuốn sau chồng lên đoạn cuối trước ít nhất 10 cm. Các lớp bọc phải phẳng nhẵn áp sát vào sơn lót.Phải có biện pháp bảo vệ lớp bọc bằng màng polime khỏi bị hỏng khi va chạm cơ học hay khi để ở nơi đất nhiều sỏi sạn.Chỉ tiến hành sơn lớp sơn chống ăn mòn cho đường ống đặt nổi trên mặt đất theo thiết kế khi lớp sơn lót thật khô.

Phải tiến hành kiểm tra chất lượng lớp sơn:

a) Lớp sơn phẳng đều , không bỏ sót , không sùi bọt.

b) Kiểm tra chiều dày lớp sơn bằng máy đo tự cảm.

c) Kiểm tra độ bám dính của lớp sơn .

Khi có chỗ lớp sơn bị hư hỏng, phải đánh sạch chỗ bị hư hỏng và quét lại từng lớp. Mỗi lớp phải thật khô mới được quét lớp sau. Chuyêù dầy của mỗi lớp không vượt quá 0,3mm.Phải tiến hành kiểm tra lớp bọc ngay trong từng khâu của quá trình thi công:

a) Nhìn bề ngoài của đoạn ống để xác định chất lượng đánh sạch ống theo đúng yêu cầu của điều 5.5 của chương này.

b) Quan sát bên ngoài đoạn ống được sơn lót theo đúng yêu cầu.

c) Phải kiểm tra chất lượng của matít bitum theo từng khâu:

– Lúc nấu có đảm bảo nhiệt độ, giờ quy định, có bỏ phối liệu, chất hoá dẻo…đúng thành phần quy định klhông.

– Tính chất cơ lí của matit bitum có đúng yêu cầu không. Mỗi ngày kiểm tra ít nhất một lần.

Kiểm tra chất lượng lớp bọc theo đúng yêu cầu .

Trước khi hạ ống xuống hào, phải kiểm tra chất lượng lớp bọc theo các yêu cầu sau:

Nhìn bề ngoài xem có các hư hỏng không?(như rộp, nhăn nheo, sót rách, lớp cuốn không chồng mép, lớp cuốn không thẩm đen …).Kiểm tra chiều dày lớp bọc bằng máy đo chiều dày. Cứ 100m đường ống phải kiểm tra ít nhất 4 điểm xung quanh đoạn ống và ở tất cả các chỗ nghi ngờ.Kiểm tra độ kín của lớp bọc bằng tia lửa của máy dò khuyết tật với điện áp.

– Đối với lớp bọc bình thường không nhỏ hơn 12.000v.

– Đối với lớp bọc tăng cường 24.000v.

– Đối với lớp bọc rất tăng cường 36.000v.

Kiểm tra mức độ bám dính của lớp bọc vào kim loại theo đúng yêu cầu.Kiểm tra độ cách điện phải đạt lớn hơn hoặc bằng 4000W.

Kiểm tra mức độ bám dính ccủa lớp bọc vào kim loại bằng thiết bị đo độ bám dính, khả năng chống bong của lớp bọc không được nhỏ hơn N/cm2 khi ở nhiệt độ 25OC. Hoặc xác định bằng cách cắt 1 mẫu tam giác đều cạnh dài từ 10 đến 12mm và có góc nghiêng của dao cắt từ 45 đến 60O so với mặt ống và bóc lớp bọc đó từ đỉnh tam giác. Lớp bọc được coi là có độ bám dính tốt với đường ống nếu chỉ bóc được những miếng nhỏ lớp bọc ra khỏi kim loại và một phần của nó còn dính lại trên mặt ống.

Độ dài đoạn bọc và số điểm kiểm tra khi bọc bằng máy cứ cách 500m kiểm tra 6 vị trí bất kì (chú ý những chỗ nghi ngờ), khi bọc bằng thủ công cứ cách 100m kiểm tra 6 vị trí bất kì.Nếu số vị trí kiểm tra không đạt ít hơn 30% tổng số vị trí kiểm tra thì đoạn bọc coi như đạt yêu cầu. Nếu số không đạt nhiều hơn 30% thì phải tiến hành kiểm tra lần thứ 2 với số vị trí kiểm tra gấp đôi(12 vị trí). Nếu kết quả số vị trí kiểm tra lần 2 không đạt ít hơn 30%tổng số vị tri kiểm tra lần 2 thì đoạn bọc vẫn coi như đạt yêu cầu, nếu số không đạt nhiều hơn 30% thì phá bỏ toàn bộ lớp bọc ở đoạn kiểm tra này bọc lại.

Những chỗ khuyết tật, chỗ không đạt của lớp bọc sau kiểm tra phải được sửa chữa, sao cho lớp bọc hoàn toàn liền khối và đồng nhất.

Chú thích:không đựoc dán lớp bọc thứ hai lên giấy xi măng…)

Đặt đường ống xuống hào

Khi đặt đường ống xuống hào và lấp hào cần bảo đảm.

– Ống và lớp bọc ống nguyên vẹn.

– Đường ống nằm sát đáy hào.

– Đường ống nằm đúng vị trí thiết kế.

Tuỳ điều kiện thực địa, phương pháp thi công, phương tiện dùng để thi công, có thể áp dụng các biện pháp đặt ống xuống hào như sau:

a) Đặt ống xuống hào ngay khi máy bọc ống đi qua theo dây chuyền liên tục vừa bọc, vừa đặt.

b) Đặt các đoạn ống đã đủ lớp bọc ống từ mép hào xuống hào bằng máy nâng ống hoặc bằng thủ công.

c) Kéo hoặc đẩy…(lao ống) các đoạn ống đã đủ lớp bọc ống và lớp bọc chống va chạm cơ hoặc từ các bãi thi công theo dọc đáy hào hoặc trên nước trong hào.

Khi thi công phải đặt ống xuống hào không chậm quá 3 ngày sau khi đã bọc xong ống.Thi công còn phải tính độ dài đoạn ống sao cho không tạo ứng lực trong ống.

Khi đặt các đoạn ống từ mép hào xuống hào bằng máy nâng ống phải :

a) Không được tạo ra động tác giật mạnh, không va chạm ông vào thành và đáy hào.

b) Không được tạo ra uốn ngang, uốn đứng bằng cách:

– Phải tính toán khoảng cách các điểm cẩu, số lượng điểm cẩu cần thiết.

– Độ cao nâng đoạn ống không được quá 1m khi có 3 máy nâng, không quá 0,8m khi có 2 máy nâng.

– Dùng dây cáp mềm có lót cho khỏi hỏng lớp bọc ống để buộc điểm cẩu.

Không nên đặt ống bằng phương pháp cẩu ống xuống hào khi lớp bọc ống bằng bitum có nhiệt độ lớn hơn +35OC.Khi đặt đường ống trong vùng đất trượt hoặc đất có lẫn đá dăm, sỏi hạt to, và các vật rắn khác, cần phải bảo vệ lớp bọc ống khỏi bị hư hỏng bằng một trong các biện pháp sau:

a) Lót một lớp đất mềm hoặc cát mịn đệm ở đáy hào không nhỏ hơn 10cm.

b) Bọc bên ngoài lớp bọc ống bằng các thanh nẹp gỗ, nẹp tre, cây cói, rơm…

c) Đặt lót một lớp cây cối, rơm rạ…ở đáy hào, khi đoạn ông đè lên lớp đệm nay thì độ dày không nhỏ hơn 10cm.

Kéo hoặc đảy ống trên nước trong hào phải có phao đặc biệt đỡ đầu ống và cần có biện pháp bảo ddảm dầu ống không bị cắm vào thành và đáy hào.Trước khi lấp hào cần kiểm tra lại vị trí đường ống theo thiết kế xem lại chất lượng lớp bọc ống. Các kết quả kiểm tra có xử lí, đều ghi thành văn bản.Khi lấp hào bằng đất có lẫn đá dăm, sỏi hạt to hoặc các vật rắn khác, phải bảo vệ lớp bọc ống khỏi bị hư hỏng bắng 1 trong các biện pháp sau:

a) Phủ một lớp đất mềm, lớp cát lên đường ống không nhỏ hơn 20cm.

b) Bọc bên ngoài lớp bọc bằng các thanh nẹp gỗ, nẹp tre, cây cói, rơm rạ…

c) Phủ lên đường ống một lớp cây cối, rơm rạ… không nhỏ hơn 20cm.

Chú thích: trong hào có nước sâu hơn 0,3m, phải được tát cạn nước mới lấp hào.

Thi công đường ống dẫn chính vượt quá chướng ngại tự nhiên và nhân tạo

Chương này dùng để thi công đường ống dẫn chính vượt qua chướng ngại tự nhiên (ao, hồ, suối, sông…) và nhân tạo (đường sắt, đường ôtô, kênh mương…) không dùng để thi công đường ống chung.Các đoạn vượt phức tạp phải có thiết kế thi công riêng, còn các đoạn vượt đơn giản theo thiết kế thi công chung.Chiều rộng đáy hào dưới nước, nếu đường ống có gia tải không được nhỏ hơn chiều rộng khối gia tải cộng thêm 1m. Nếu đường ống không có gia tải, không nhỏ hơn 1,5 đường kính ống (kể cả lớp bọc ống).

Khi kéo đường ống theo đáy hào hoặc qua ống lồng phải có biện pháp bảo vệ bọc ống chống ăn mòn khỏi bị hư hỏng do va chạm cơ học.Trên các khối gia tải được gia công sẵn, cần ghi đầy đủ thể tích trọng lượng, kích thước.Khi thi công các đoạn vượt ở nơi có giao thông đi lại (đường ôtô đường thuỷ…) phải bảo đảm không làm cản trở việc giao thông và phải có biển báo cho các phương tiện giao thông biết để đề phòng tai nạn.

Trước khi thi công đoan vượt qua chướng ngại nước phải làm đầy đủ các công tác chuẩn bị sau:

a) Cắm mốc hướng tuyến.

b) Cắm biển báo nguy hiểm ở thượng, hạ lưu đoạn sông có phương tiện qua lại.

c) Cắm mia theo dõi mức nước hoặc đặt trạm đo nước.

d) Đo độ cao mặt đáy chướng ngại nước, chỗ đường ống vượt qua.

e) Lặn quan sát dải rộng

D = B+6 (m) – (7-1)

B: chiều rộng đáy hào tính bằng m

Kết quả đo độ cao mặt đáy chướng ngại nước:

a) Chênh lệch độ cao đo, so với thiết kế có giá trị tuyệt đối bé hơn hoặc bằng 0,5m thì:

– Nếu cao hơn trị số ghi trong thiết kế thì phải đào hào đến độ cao đáy hào ghi trong thiết kế.

– Nếu thấp hơn trị số ghi trong thiết kế thì phải đào hào đúng bằng độ sâu ghi trong thiế kế.

b) Chênh lệch độ cao đo, so với thiết kế có giá trị tuyệt đối lớn hơn 0,5m thì phải có ý kiến xử lí của thiết kế.

Vẽ lại mặt cắt dọc thực tế lức thi công của đáy hào.

Nếu đường ống dẫn chính chôn ngầm ở mặt đáy chướng ngại nước thì phải đào hào hoặc hạ chìm đường ống vào trong đất bằng với phun thuỷ lực.Nếu hạ chìm đường ống vào trong đất bằng vòi phun thuỷ lực cần xác định đủ số lượng vòi phun và khoảng cách giữa các vòi phun để ống sẽ tự hạ chìm cùng một lúc vào trong đất.

Nếu đào hào dưới nước thì có thể dùng các phương pháp sau:

– Nổ mìn;

– Vòi phun thuỷ lực;

– Thiết bị cào đất;

– Máy đào đất đặt trên phương tiện nổi;

– Các phương tiện đào hào chuyên dụng v.v…;

– Tàu hút bùn.

Dù dùng phương pháp nào cũng phải bảo đảm mái dốc hào đúng như thiết kế, nếu thiết kế không quy định mái dốc thì lấy mái dốc theo bảng 1 chương 3 của tiêu chuẩn này.Tổng các đoạn hàn nối ống để đặt ở lòng sông phải có chiều dài lớn hơn chiều dài phần lòng sông. Khi hàn nối xong, tiến hành thử thuỷ lực sơ bộ.

Pthử = 1,25pL.V

Pthử: áp suất lúc thử tính bằng N/cm2

PL.V:áp suất lúc làm việc tính bằng N/cm2

Khi đào hào xong, phải kiểm tra suốt dọc hào, do độ sâu hào thực tế, lập biên bản nghiệm thu hào theo đúng yêu cầu.Nghiệm thu hào xong, phải tiến hành đặt đường ống xuống hào ngay , không để chậm quá 24giờ.

Khi đào hào bằng máy đào chỗ sát mép nước ở bờ sông phải bố chí các neo giữ, các tấm lót. Số lượng và phương pháp neo giữ phải xác định bằng tính toán bảo đảm máy đào không bị lật hoặc trượt.Các biện pháp kĩ thuật và thời gian thi công đặt đường ống qua đê phải được cơ quan quản lí đê nhất trí bằng văn bản.

Trước khi đặt đường ống xuống hào phải đo tốc độ dòng nước. Khi tốc độ dòng nước lớn hơn so với thiết kế, phải có biện pháp chống trôi đường ống.Thi công đoạn sông có ảnh hưởng thuỷ triều, phải chú ý chọn thời gian đặt đường ống qua sông lúc tốc độ dòng nước nhỏ nhất và có biện pháp xử lý lúc tốc độ dòng nước tăng lên quá lớn.Khi thi công nếu gặp đất đá cứng ở đáy hào mà trong thiết kế không có thì trước khi đặt đường ống xuống hào cần rải 1 lớp cát hoặc đất mềm không nhỏ hơn 20cm. Sau khi đặt đường ống xuống hào cần rải một lớp cát hoặc đất mềm dày 20cm phủ lên đường ống.Không thể dùng phương pháp kéo ống ở địa hình này.

Trước khi đặt đường ống dẫn khí với bất kì đường kính nào và đường ống dẫn dầu,sản phẩm dầu với đường kính lớn hơn 500mm phải kiêm tra độ nổi thực tế của đường ống. Nếu độ nổi này lớn hơn so với thiết kế, thì phải có biện pháp chống nổi cho đường ống thích hợp và lập biên bản có xác nhận của bên giao thầu và bên thiết kế.

Khi đặt đường ống bằng phương pháp kéo, cần kiểm tra chất lượng và chiều dài các loại cáp sẽ dùng.Đặt đường ống bằng cần cẩu nổi xuống hào, phải tính khoảng cách điểm cẩu, vị trí các phao đỡ trung gian từ cần cẩu nổi đến chỗ ống đang ở sát đáy hào.

Đặt đường ống từ phao nổi xuống hào, phải kiểm tra các điểm buộc phao, điểm hàn để bảo đảm đặt đường ống đúng tâm hào trước khi cắt dây cho đường ống rơi đúng hào.Đối với đoạn vượt sông có từ 2 nhánh ống trở lên, phải thi công từ nhánh hạ lưu đến nhánh thượng lưu.Sau khi đặt đường ống qua sông xong, phải lặn quan sát đường ống đã đặt, đo độ cao đỉnh ống (có cùng hệ độ cao với bản vẽ thiết kế) và vẽ mặt cắt dọc đường ống thực tế.

Phải chèn đất vào những chỗ đường ống không nằm sát đáy hào.Trước khi lấp hào, phải thử thuỷ lực đường ống trong phạm vi giữa 2 hố van (kể cả 2 hố van).Lấy đất đến cao trình thiết kế, nhưng không cao hơn đáy sông cũ.Các biện pháp kĩ thuật và thời gian thi công đoạn vượt của đường ống dẫn chính qua đường sắt và đường ô tô phải được sự thoả thuận của các cơ quan quản lý đường đó nhất trí bằng văn bản.

Đối với các loại đường không được phép ngừng giao thông, không được phép làm ảnh hưởng tới lưu lượng, tốc độ xe đi trên đường, có thể áp dung các biện pháp:

– Khoan ngang;

– Xuyên nén đường ống bằng kích thuỷ lực hay máy chấn đông có lấy đất hoặc không lấy đất ra;

– Làm cầu tạm bằng ống thép, thép hình hoặc các vật liệu có độ bền tương đương.

Đối với các loại đường không được phép ngừng giao thông, nhưng không được phép giảm lưu lượng và tốc độ xe chạy trên đường, có thể áp dụng các biện pháp sau:

– Làm đường tạo rẽ vòng qua chỗ thi công;

– Đào hào để thi công từng nửa đường một.

Phải gia cố bảo đảm chỗ đường ống vượt qua đường không bị lún, xói.Phải bảo đảm cách điện giữa đường ống dẫn chính và ống lồng.Phải thi công các trình vượt nổi có cấu trúc dạng dầm treo, vòm và các cấu trúc khác phải tuân theo các yêu cầu của tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu các công trình cầu và đường ống.Thi công mố trục phải tuân theo tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu các công trình nền và móng.

Đối với đoạn vượt nối dạng dầm có một nhịp, chiều dài đoạn đường ống được hàn nối sẵn phải đủ phủ hết nhịp đó. Trường hợp đoạn vượt có nhiều nhịp chiều dài đoạn đường ống được hàn nối sẵn phải đủ phủ hết tất cả chiều dài cho các nhịp đó hoặc từng vài nhịp một.Phải thi công đúng vị trí thiết kế các mố trụ chính thức, tạm thời và vị trí các mối hàn nối.Khi đặt đường ống lên mố trụ bằng cần trục, máy nâng ống chuyên dụng hoặc bằng cách kéo dọc trục các mố trụ trên các con lăn chuyên dụng, khoảng cách các điểm cẩu, các điểm kê không được lớn hơn chiều dài một nhịp nếu là dạng dầm, không được lớn hơn 0,4 chiều dài nhịp nếu là dạng công son.

Khi lắp ráp đoạn vượt nối dạng dầm thẳng có ngàm cả hai đầu không có thiết bị bù biến dạng dọc, phải chú ý đặc biệt đến tính thẳng của đường ống. Độ sai lệch của trục đường ống trong mặt bằng không được vượt quá 5cm.Cấu trúc đoạn đường ống vượt nối được tăng cường bằng hệ giằng được lắp ráp từ nhịp nguyên, đã lắp ráp sơ bộ hoặc từ các thành phần đã chuẩn bị trước với việc dựng các mố trụ trung gian tạm thời.Trong cả hai trường hợp, trước khi kết thúc công tác lắp ráp, cần kiểm tra sức kéo của hệ giằng saocho kết cấu nhịp cong vòng lên 1 trị số bằng 0,001 đến 0,002 độ lớn của nhịp.

Weldtec đã trình bày với các bạn về phần 1 tiêu chuẩn TCVN về đường ống chính dẫn dầu và sản phẩm dầu,các bạn đón đọc phần 3 nhé..

Nếu quý khách có nhu cầu tư vấn trực tiếp hay đặt mua máy thì liên hệ với chúng tôi. Chúng tôi luôn sẵn sàng..

Bài liên quan